Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều châu lục, trải nghiệm đủ mọi ngành nghề và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế, từ đó Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người nhận ra rằng: con đường duy nhất để giải phóng dân tộc chính là con đường cách mạng vô sản. Trong quá trình hoạt động cách mạng xa xứ, dù ở bất cứ đâu, trái tim Người vẫn luôn đau đáu tìm thời cơ trở về để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Thời điểm năm 1940, khi phát xít Đức tấn công Pháp và Chính phủ Pêtanh đầu hàng phát xít Đức, Người đã nhạy bén nhận định: “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Và ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc vượt qua cột mốc 108 (nay là cột mốc 675) về đến Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng). Quyết định trở về của Người vào mùa xuân năm 1941 không chỉ là sự trở về của một cá nhân, mà là sự trở về của một tầm nhìn chiến lược mở ra một chương mới cho cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Người để đưa con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến độc lập, tự do.

Bác Hồ tại hang Cốc Bó, tỉnh Cao Bằng
Trong hành trình trở về, Người lựa chọn Cao Bằng làm điểm đặt chân đầu tiên vì nhận định đây là vùng đất hội tụ đủ “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Người nhấn mạnh: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi”. Từ ngày 08/02/1941, Người chuyển đến hang Cốc Bó, thôn Pác Bó để sống và làm việc.
Tại hang Cốc Bó, trong điều kiện sinh hoạt vô cùng gian khổ, “sáng ra bờ suối, tối vào hang”, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay ngay vào việc hiện thực hóa các kế hoạch chiến lược cho toàn cuộc cách mạng. Chỉ vài tháng sau khi về nước, từ ngày 10 đến 19/5/1941, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại lán Khuổi Nậm. Đây là sự kiện có ý nghĩa sống còn, hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết và trước hết. Hội nghị đã đưa ra những quyết sách lịch sử là thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái vào mục tiêu cứu quốc. Hội nghị nhận định “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”, đồng thời cũng kiện toàn cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng chính thức, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư; trên cơ sở đó kiện toàn các cấp bộ Đảng từ Xứ uỷ đến các cấp bộ Đảng ở các địa phương. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh chính là minh chứng cho tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Người. Người chỉ đạo thiết lập các “con đường quần chúng” từ Cao Bằng về miền xuôi, mở rộng phong trào “Nam tiến” để tạo sự kết nối từ Cao Bằng sang các hướng Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang; nối liền các căn cứ, phát triển phong trào cách mạng ở Việt Bắc gắn với phong trào cả nước, tạo điều kiện cho việc ra đời khu giải phóng sau này.
Song song với xây dựng cơ sở quần chúng, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo mở các lớp huấn luyện phù hợp từng đối tượng cán bộ, nhất là thanh niên để bồi dưỡng lý luận kết hợp với rèn luyện thực tiễn. Trên mặt trận tuyên truyền, tháng 8/1941, báo Việt Nam độc lập do Người trực tiếp phụ trách được xuất bản, đây là công cụ đấu tranh sắc bén kiên trì vạch trần tội ác của đế quốc và tay sai, cổ vũ toàn dân đoàn kết cứu nước.
Để chuẩn bị cho bước phát triển mới của cách mạng, đến cuối năm 1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, Đội được thành lập tại khu rừng thuộc Nguyên Bình (tỉnh Cao Bằng), gồm 34 chiến sĩ, chia làm 3 tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo, do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy. Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, chỉ sau hai ngày thành lập, Đội lần lượt giành thắng lợi ở Phai Khắt (25/12/1944) và Nà Ngần (26/12/1944), gây tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng trong cả nước. Bên cạnh đó, Người chủ động xây dựng quan hệ với lực lượng Đồng minh chống phát xít, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế để nâng cao vị thế của Việt Minh.
Khi thời cơ tổng khởi nghĩa đến gần, tháng 5/1945, Người quyết định chuyển trung tâm lãnh đạo từ Pác Bó về Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang) để thuận tiện cho việc chỉ đạo phong trào chung toàn quốc; chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc; thống nhất lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân và kêu gọi tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam: giai đoạn chuẩn bị về mọi mặt để tiến tới Tổng khởi nghĩa và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nó để lại những bài học vô giá về xây dựng căn cứ địa và lực lượng cách mạng; Dự báo, nhận định, đánh giá đúng tình hình; Xác định đúng thời cơ nhiệm vụ cách mạng; Xây dựng thế trận lòng dân; Tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng và Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Kỷ niệm 85 năm ngày Bác Hồ về nước (28/01/1941 - 28/01/2026) là dịp để chúng ta soi rọi lại hành trình đấu tranh cách mạng vĩ đại của dân tộc; bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong không khí cả nước phấn khởi chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam nguyện tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những hành động cụ thể, việc làm thiết thực để đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.
Đức Cường